Trang chủ    |    Giới thiệu    |    Chương trình đào tạo    |    Danh sách môn học    |    Giảng viên    |    Nghiên cứu KH    |    Tuyển sinh
THẾ MẠNH CỦA KHOA
Ứng dụng phương pháp dạy học cải tiến ở Khoa KHXH & NV - 13/06/2015

GV: Lê Thị Huệ - Khoa KHXH & NV

1. Tại sao chúng ta phải quan tâm đến PPGD cải tiến?

- Đáp ứng chuẩn đầu ra: đào tạo người lao động có phẩm chất, thái độ, chuyên môn, kỹ năng phù hợp với yêu cầu thực tế công việc tại các cơ quan/doanh nghiệp, người học phải trở thành người làm được việc.

Chuẩn đầu ra thay đổi thì các hoạt động dạy và học cũng phải thay đổi phù hợp. Sau khi xây dựng được các chuẩn đầu ra cho chương trình đào tạo cũng như cho từng môn học cụ thể, câu hỏi đặt ra tiếp theo đối với người giảng viên đó là: “Làm thế nào để giúp sinh viên chúng ta có thể đạt được các mục tiêu đó?”. Nghĩa là chúng ta cần quan tâm đến các phương pháp tổ chức việc giảng dạy và học tập cho sinh viên trong suốt chương trình đào tạo cũng như cho từng môn học cụ thể một cách có hiệu quả cao để có thể đáp ứng được các chuẩn đầu ra mong đợi.

- Thứ hai, chương trình đào tạo mới là chương trình đào tạo tích hợp Nghĩa là chương trình đào tạo phải có các khóa học kiến thức chuyên ngành hỗ trợ lẫn nhau, có kế hoạch rõ ràng trong việc tích hợp các kỹ năng cá nhân và tương tác giao tiếp, cũng như kỹ năng kiến tạo sản phẩm, quy trình và hệ thống. Như vậy, để có thể tổ chức đào tạo theo chương trình tích hợp thì bản thân giảng viên và sinh viên cần được trang bị các phương pháp giảng dạy và học tập tích hợp để có thể thích nghi và đạt được mục tiêu của chương trình đào tạo mới.

- Đối với các chuẩn đầu ra về mặt kỹ năng, giảng viên cũng cần có những kế hoạch và phương pháp giảng dạy một cách cụ thể và có mục đích. Ví dụ như yêu cầu sinh viên làm việc nhóm không có nghĩa là họ sẽ học được kỹ năng làm việc theo nhóm hiệu quả. Các vấn đề như làm sao để thành lập một nhóm, làm sao lập kế hoạch và phân chia công việc trong nhóm, và làm sao để giải quyết những mâu thuẫn trong nhóm,… cần phải được giảng dạy một cách rõ ràng.  Học tập hiệu quả chỉ xảy ra khi các hoạt động giảng dạy mang đến những cơ hội cụ thể cho sinh viên thực hành, phản ánh những trải nghiệm của họ và họ được ứng dụng khái niệm lý thuyết. Đây là một thách thức rất lớn đối với đa số các giảng viên Việt Nam khi hiện nay vẫn chưa được tập huấn đầy đủ và thống nhất về các phương pháp giảng dạy mới.

2. Thế nào là PPGD chủ động?

- Phương pháp giảng dạy chủ động là một thuật ngữ được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. "Chủ động" được dùng với nghĩa là hoạt động, tích cực, trái nghĩa với bị động, thụ động. Phương pháp giảng dạy chủ động hướng tới việc hoạt động hóa, chủ động hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính chủ động của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính chủ động của người dạy.

- Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp chủ động thì giảng viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Người giảng viên phải tạo ra được các cơ hội học tập, thông qua các hoạt động đa dạng, kích thích sinh viên khám phá, áp dụng, phân tích và đánh giá các ý tưởng hơn là truyền đạt thông tin một chiều. Sinh viên sẽ có cơ hội được thắc mắc, nêu lên các vấn đề để xoay quanh các khái niệm hay các ý tưởng, từ đó tiến tới giải quyết các vấn đề. Người học sẽ cảm thấy luôn ý thức được quá trình học của họ, họ đang học gì và phải học như thế nào. Đây cũng chính là cách nâng cao cho người học cách xây dựng động cơ học tập và hình thành thói quen học tập suốt đời. Giảng dạy chủ động chính là tổ chức các hoạt động học tập đa dạng và phong phú giúp làm tăng khả năng lĩnh hội kiến thức.

Giảng viên không còn đơn thuần đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người hướng dẫn cho sinh viên trên con đường đi tìm tri thức. Một cách cụ thể hơn, người thầy còn đóng vai trò thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để sinh viên tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Trên lớp, sinh viên hoạt động là chính, giảng viên chỉ là người hướng dẫn. Nhưng trước khi lên lớp, giảng viên phải đầu tư nhiều thời gian để thiết kế bài giảng sao cho đạt được chuẩn đầu ra; chọn lọc phương pháp giảng dạy và phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu và nội dung bài giảng.

Trong quá trình giảng dạy, ngoài giờ lên lớp, người thầy còn phải theo dõi các hoạt động tự học của sinh viên, giúp đỡ khi cần thiết, trao đổi thảo luận và góp ý để người học đi đúng hướng. Như vậy, người thầy trong giảng dạy và học tập chủ động cần phải đầu tư công sức và thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của sinh viên. 

- Kết quả:

  • Kết hợp đánh giá của giảng viên với tự đánh giá của sinh viên. Trước đây giảng viên giữ độc quyền đánh giá sinh viên, nhưng trong phương pháp chủ động thì giảng viên phải hướng dẫn sinh viên phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giảng viên cần tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho sinh viên. Một điểm cần chú ý trong việc đánh giá đó là phải đánh giá dựa trên quá trình, tránh tập trung đánh giá vào cuối học kỳ và đa dạng các hoạt động đánh giá để người học có cơ hội thể hiện sự tiến bộ của mình trong quá trình học.
  • Sinh viên phải đạt được các kết quả mong muốn và họ cảm thấy thỏa mãn với nền giáo dục mà họ nhận được khi họ được học một cách tích cực, được tham gia chủ động với đa dạng các hoạt động học tập. Học tập chủ động giúp sinh viên có được cách tiếp cận sâu trong quá trình học. Cách tiếp cận sâu có nghĩa là sinh viên chủ tâm để tìm hiểu các khái niệm, thay vì đơn thuần chỉ tái thể hiện thông tin trong các bài thi.

3. Ứng dụng ở Khoa KHXH & NV. Cụ thể:

- Soạn Đề cương, Bài giảng, Ngân hàng tự học, Ngân hàng đề thi:

  • Mục tiêu xuất phát từ năng lực vốn có, nhu cầu và hướng về người học
  • Chú trọng đến các hoạt động của người học mang tính tích cực, chủ động
  • Ưu tiên cho giờ thực hành, giảm thiểu giảng lý thuyết

- Hiện thực hóa Hồ sơ môn học bằng các giờ lên lớp:

  • SV làm việc nhóm (nhóm/cặp 2 người: chia sẻ, phản biện lẫn nhau, nhóm nhiều người: thảo luận, phát biểu, các nhóm khác phản biện) (Áp dụng trong tất cả các học phần ở các tổ bộ môn Chính trị, Pháp luật, Quản trị văn phòng, Kỹ năng mềm.)
  • SV sắm vai, trải nghiệm qua các tình huống (Áp dụng cho các học phần chuyên ngành Quản trị văn phòng và Pháp luật, Kỹ năng mềm)
  • SV quan sát và nhận xét tình huống (khen, chê, bổ sung, tự rút ra bài học) (chủ yếu ở các môn chuyên ngành Quản trị văn phòng, Pháp luật và Kỹ năng mềm)
  • SV thực hành (trước, trong và sau khi học xong lý thuyết) theo cáo cấp độ mục tiêu từ dễ đến khó (cảm tính đến tái hiện, tái tạo đến sáng tạo)
  • SV suy nghĩ, thảo luận và thuyết trình, chia sẻ, tranh luận (áp dụng trong tất cả các học phần ở các tổ bộ môn Chính trị, Pháp luật, Quản trị văn phòng, Kỹ năng mềm)
  • SV thực hành, thực tập ảo tại phòng thực hành (Các môn chuyên ngành Quản trị văn phòng: Nghiệp vụ thưc lý, Văn thư – Lưu trữ)
  • Làm Tiểu luận, Viết Báo cáo, Đề án, Khóa luận trên cơ sở đi thực tế, thực hành, thực tập tại cơ quan/doanh nghiệp (Các môn chuyên ngành Quản trị văn phòng)
  • SV tham quan thực tế (áp dụng cho các môn thuộc tổ Chính trị và Quản trị văn phòng)
  • GV giao nhiệm vụ về nhà, SV ôn tập, làm bài tập củng cố kiến thức và bài tập thực hành; từ đó có thể vẽ lại cây kiến thức hay sơ đồ tư duy về bài học (áp dụng trong tất cả các học phần ở các tổ bộ môn Chính trị, Pháp luật, Quản trị văn phòng, Kỹ năng mềm)
  • GV cho vấn để, SV về nhà chuẩn bị theo nhóm hoặc cá nhân để lên lớp trao đổi (áp dụng trong tất cả các học phần ở các tổ bộ môn Chính trị, Pháp luật, Quản trị văn phòng, Kỹ năng mềm)


<<<

  

Thông tin liên quan

  • Vai trò của nhân viên công tác xã hội
  • Thư ký văn phòng - việc làm ổn định dành cho người năng động
  • Những điểm nổi bật của Khoa KHXH & NV
  • Quản trị hành chính Văn phòng – Năng động, chuyên nghiệp, tương lai rộng mở
  • Nghề của những người năng động: Quản trị văn phòng
  • “Quản trị văn phòng” không phải đào tạo người “ngồi bàn giấy”
  • Quản trị văn phòng: Nghề của những người năng động và chuyên nghiệp
  • Quá trình học tập của sinh viên Quản trị văn phòng trường Đại học Đông Á
  • Cảm ơn cô - “Cô giáo lắm chiêu”!
  • Giá trị cốt lõi Đại học Đông Á từ góc nhìn khoa KHXH & NV