Chuyên đề "Lời phê hơn điểm số"
"Lời phê của GV trong đánh giá KQHT của SV" - GV Đỗ Thị Hải - 18/07/2013

Bài viết tham gia diễn đàn "Đi tìm lời phê"

 GV Đỗ Thị Hải - Khoa Kế toán – Tài chính

1. Một số vấn đề lí luận chung

1.1. Khái niệm về lời phê và điểm số trong đánh giá của GV về kết quả học tập (KQHT) của người học

* Điểm (Note): nhận xét tổng hợp nhằm đánh giá 1 khả năng hay hành vi của người học trong lĩnh vực giáo dục (GD). Cho điểm có tính khách quan hoặc chủ quan, nhưng bao giờ cũng có tính tương đối. Ví dụ: cho điểm A cho 1 sinh viên (SV) có khả năng học tập đạt trình độ tương ứng với một bậc thang trong thang điểm quy định của Nhà nước là cách cho điểm khách quan, còn ghi nhận xét “tốt” cho bài làm (văn) là cách cho điểm chủ quan.

Căn cứ theo quan niệm cho điểm khách quan, ta có thể hiểu: “Điểm  - điểm số là sự đánh giá bằng con số theo một bảng tính sẵn được chọn trước” (theo từ điển Robert). Như vậy, điểm số mang tính định lượng, là cái cụ thể hóa những đánh giá về bài làm, là thước đo nhận thức của người học. Điểm số cần thiết phải có để đánh giá sự nhận thức của người học. Tuy nhiên, từ điểm số cụ thể đó (là những con số (1, 2, 3…10) hay chữ số (A, B, C, D…) GV phải cần có những lời phê – nhận xét tương ứng với điểm số để biến những con số (chữ số) khô khan thành những lời động viên, khuyến khích, … nhằm giúp người học biết được những ưu và nhược điểm của mình để tiếp tục cố gắng học tập tốt hơn.

* Lời phê là những lời nhận xét mang tính khái quát hay những chỉ dẫn cụ thể về các ưu nhược điểm của người học. Lời phê là định tính về khả năng nhận thức (bài làm tốt, tương đối tốt, chưa tốt…) cũng như về ý thức, thái độ, tính cách … của người học (chữ viết cẩu thả,  …).      

1.2. Lời phê hơn điểm số

1.2.1. Vai trò của điểm số và lời phê

Điểm số Là công cụ để phân loại chất lượng bài làm; Là một trong những động lực giúp sinh viên nỗ lực hơn trong học tập; Là một trong những căn cứ giúp các nhà tuyển dụng đánh giá được năng lực của người học sau khi ra trường.

Lời phê Giúp sinh viên thấy rõ sự đánh giá của GV với bài làm của mình, về mặt đã đạt được và mặt còn hạn chế; Là định hướng giúp sinh viên mở mang kiến thức của mình; Là sự động viên, khích lệ mà giảng viên dành cho sinh viên.; Tác động đến niềm tin, động cơ, thái độ, kết quả học tập của học sinh -> Lời phê không chỉ là lời khen, chê đơn thuần mà là những lời góp ý chân thành, tâm huyết từ những thầy cô giáo để giúp cho người học củng cố kiến thức, say mê học tập; giúp người học hoàn thiện cả về tri thức và nhân cách.

1.2.2. Vì sao lời phê hơn điểm số

Lời phê trong các bài kiểm tra là một giá trị dạy học cực lớn nhưng hiện nay nhiều giáo viên đang bỏ qua” (GS.TS. Đinh Quang Báo). Đặc biệt, trong môi trường giáo dục đại học hiện nay việc để lại lời phê đang bị xem nhẹ.

  • Lời phê giúp thiết lập kênh thông tin giữa sinh viên và giảng viên. Từ lời phê của giảng viên, sinh viên có thể củng cố lại những thiếu sót thông qua việc nhờ giảng viên giảng lại hoặc thông qua các tài liệu mà giảng viên gợi ý, cung cấp.
  • Lời phê đặc biệt hữu ích trong các bài tập nhóm và các bài thuyết trình bày tại lớp.
  • Lời phê giúp sinh viên có thể nhận ra những lỗi thường gặp trong các bài học và kiểm tra một cách khái quát hơn.để phát huy, biết sai để sửa, có tác dụng khuyến khích, uốn nắn sự rèn luyện của sinh viên.
  • Giáo dục hiện đại đang đánh giá cao tính cần thiết của những lời phê mà thầy, cô giáo dành cho HS, SV của mình. Những lời phê, góp ý chân thành của các GV có tâm huyết, có kinh nghiệm có thể giúp SV tìm ra những chân trời kiến thức; và quan trọng hơn thế, những lời phê sẽ mang lại cho SV niềm tin vào bản thân cũng như sự say mê học tập, nghiên cứu.

-> Lời phê tốt, đúng, có chất lượng sẽ có ý nghĩa đối với cả GV và SV:

- Đối với giáo viên: thể hiện sự đánh giá của GV về năng lực,  thái độ và ý thức học tập của sinh viên. Và cũng qua những lời phê đó cho thấy trách nhiệm, tâm huyết kiến thức của người dạy, sự đầu tư thời gian và trí lực của giảng viên dành cho sinh viên của mình.

- Đối với sinh viên: là sự ghi nhận, là sự thể hiện thành quả học tập, nỗ lực của mình

  • Ngược lại nếu chỉ chấm điểm mà không coi trọng lời phê sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực như GD mang nặng tính điểm số, thành tích; SV không biết rõ sự đánh giá cụ thể của GV đối với bài làm của mình mà chỉ lo chạy theo thành tích (hiện tượng xin điểm, chạy điểm... ).

Lời phê không chỉ là nhận xét lực học của người học mà có tác dụng động viên khích lệ tinh thần học tập. Điểm số đôi khi không phải là tất cả, chưa nói lên được điều gì nhưng lời phê có thể đánh giá, khích lệ, động viên thậm chí làm thay đổi cả một con người.

Đánh giá là điều cần thiết trong GD để nhận biết thái độ học tập cũng như kết quả tiếp nhận kiến thức của người học. Đánh giá chỉ có giá trị khi tìm ra được những tiến bộ thực sự. Đánh giá với điểm số cao thấp không đạt được tối đa mục đích GD, vì lối đánh giá này ít phát triển óc sáng tạo, ít phát triển động lực thúc đẩy học tập vì cả GV lẫn người học đã chú ý nhiều vào điểm số. Đánh giá không điểm số qua các loại bài làm cùng với thái độ và nỗ lực học tập, lời phê chi tiết của GV thể hiện tiến triển học tập xác thực sẽ là lựa chọn cần thiết trong giáo dục với xu thế phát triển bền vững và hội nhập.

Đánh giá rất quan trọng và là điểm thiết yếu của GD. Học đường được thiết lập để tiếp nhận những giá trị của XH về mọi phương diện. GV là thành viên của XH, được XH uỷ nhiệm công tác GD để đánh giá thái độ học tập và kết quả tiếp nhận kiến thức của người học phù hợp với các giá trị XH.

Đặc tính công bằng trong đánh giá: Cho điểm một cách công bằng các bài làm là một việc khó thực hiện, trừ môn Toán với những câu hỏi có đáp số rõ ràng. Nhưng ngay trong môn học này, nhiều bài làm có tính lí luận chứng minh, đòi hỏi người học suy tưởng và diễn tả sao cho ngắn gọn sáng tỏ thì việc đánh giá qua điểm số ở đây cũng khó có được hoàn toàn công bằng. Người học viết chữ đẹp, chữ xấu, trình bày sáng tỏ, nhìn vào dễ thấy, tên người học, thành kiến của GV đều có ảnh hưởng nhiều ít tới điểm số. Với một bài luận hay bài nghiên cứu, việc cho điểm số công bằng càng khó thực hiện hơn.

1.3. Yêu cầu của lời phê – nhận xét của giáo viên ở bậc đại học

1.3.1. Căn cứ khoa học của việc ghi lời phê – nhận xét của GV vào KQHT của người học nói chung và SV đại học nói riêng.

Việc GV đưa ra lời phê – nhận xét vào bài làm của SV nói riêng và KQHT (đào tạo nói chung) không phải là tuỳ tiện, mang tính chủ quan riêng của mỗi GV mà là phải dựa vào những yếu tố khách quan – đó là mục tiêu giáo dục (đào tạo) ở mỗi cấp học. Mục tiêu này được thể hiện qua nội dung yêu cầu của mỗi môn học, bài học, tiết học...

Và theo quan điểm của B. Bloom và các nhà GD học, thì mục tiêu GD gồm 3 lĩnh vực với nhiều cấp độ khác nhau: 1/ Nhận thức (Kiến thức (nhớ - biết), Thông hiểu, Vận dụng, Phân tích, Tổng hợp, Đánh giá, Sáng tạo); 2/ Cảm xúc – tác động (Tiếp thu, Đáp ứng (phản hồi), Hình thành các giá trị, Tổ chức các giá trị, Tập hợp (tạo lập) hệ giá trị); 3/ Tâm vận - hoạt động (Bắt chước,  Thao tác (tự chế tác), Làm chuẩn xác, Liên kết (khớp nối), Tự nhiên hóa (thành thục tự nhiên).

Riêng đối với GV ở bậc đại học thì việc ghi lời phê và nhận xét về khả năng nhận thức của SV là cần tập trung vào những mục tiêu ở các mức độ cao. Đó là khả năng phân tích vấn đề, đánh giá tình hình, tập hợp được sức mạnh của các thành viên khác trong nhóm để vận dụng có sáng tạo những gì đã học vào trong cuộc sống thực tiễn nhằm tạo ra cái mới. Và đây cũng là điểm khác biệt rất lớn giữa lời phê – nhận xét của GV ở Đại học – Cao đẳng với lời phê – nhận xét của GV ở bậc Phổ thông (chú trọng nhiều vào các mức độ thấp hơn: nhớ, hiểu, phân tích, vận dụng trong chừng mực nhất định).

1.3.2. Sử dụng lời khen chê như thế nào cho đúng, hợp lý ?

Sử dụng các lời khen chê phù hợp, kịp thời trong từng hoàn cảnh, với từng đối tượng người học là cả một nghệ thuật sư phạm. Nó đòi hỏi người GV phải khéo léo, tế nhị, nhậy bén. Vì có những lời phê – nhận xét làm cho người học hưng phấn, tự tin, mạnh dạn tiến lên, phát huy được năng lực, sở trường của mình. Nhưng đồng thời cũng có những lời phê của GV làm người học mất hứng thú, thui chột tài năng, … Do vậy, GV cần phải công tâm đối với tất cả SV để có những lời khen đúng và chê phù hợp nhằm giúp SV dễ dàng tiếp nhận một cách thoải mái.

Lời khuyên:

  • Hãy bắt đầu bằng Lời khen trong giao tiếp nói chung và GD nói riêng. Đó là một bí quyết vô cùng đơn giản nhưng đem lại hiệu quả cao.  
  • Chê trách là một biện pháp cần thiết để giúp cá nhân điều chỉnh thái độ, nâng cao ý thức và làm việc có hiệu suất cao hơn. Trước khi chê một vấn đề nào đó (dù là rất nhỏ) thì cũng nên tìm ra những điểm mạnh (ưu điểm) của người học đã được thể hiện (trong giao tiếp hay trong bài làm) để khen khích lệ trước khi người học nhận lời chê.
  • Khen chê luôn đi kèm nhau.

Khi người học nhận được 1 lời khen về một mặt cụ thể nào đó (dù là rất nhỏ) nhưng lúc đó người học sẽ có niềm tin vào bản thân, tự tin hơn khi được GV ghi nhận sự cố gắng của mình. Sau những lời khen là những góp ý tế nhị, đúng bản chất năng lực của SV, phù hợp với từng SV, từng hoàn cảnh thì lúc này sau khi vui mừng với lời khen của GV, việc đón nhận các lời phê phán SV sẽ cảm thấy nhẹ nhàng và dễ tiếp nhận hơn.

Lời phê góp ý không chỉ được thể hiện trên trang giấy kiểm tra, bài làm viết mà lời phê góp ý còn cần nhiều hơn thế trong giao tiếp trực tiếp với SV trong và ngoài lớp học. Lời phê có thể được thể hiện 1 cách công khai, mà cũng có thể gặp riêng từng người học để góp ý trực tiếp về nhiều mặt chứ không đơn thuần chỉ là những kiến thức khoa học, vì người GV có tâm huyết sẽ không chỉ là những nhà giáo dục, mà còn là những người bạn, người anh – người chị giúp người học hình thành nhân cách, mà trong đó năng lực học tập chỉ là một phần.

Tại các trường ĐH – CĐ nói chung và Đại học Đông Á nói riêng thì việc đưa ra lời phê – nhận xét nên áp dụng đối với: Bài tập trên lớp, Bài tập nhóm, Bài kiểm tra giữa kỳ, Bài tập thực hành, Bài tiểu luận, NCKH, Báo cáo Thực tập tốt nghiệp, Khoá luận tốt nghiệp, Đề án tốt nghiệp và những lời động viên, thăm hỏi trong quá trình dạy – học.

2. Kết quả nghiên cứu thực tiễn

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi soạn 2 loại phiếu điều tra: 1/ Phiếu điều tra đối với SV gồm 8 nội dung – câu hỏi. Từ câu hỏi 1- 7, mỗi câu có 3 phương án trả lời sẵn, riêng câu hỏi số 8 là câu hỏi mở  - ý kiến của SV; 2/ Phiếu điều tra đối với GV có 11 nội dung – câu hỏi. Từ câu hỏi 1- 10, mỗi câu có 3 phương án trả lời sẵn, riêng câu hỏi 11 là câu hỏi mở - ý kiến của GV.

Nét đặc biệt của 2 loại phiếu này là ở chỗ: từ câu 1-7 có nội dung giống nhau (với mục đích là tìm ra sự giống và khác nhau giữa đánh giá của SV và GV về cùng một vấn đề (qua 7 câu hỏi) lời phê – nhận xét kết quả học tập của SV.

Còn 2 câu hỏi cuối cùng ở cả 2 loại phiếu (câu số 8 ở phiếu điều tra SV và câu số 11 ở phiếu điều tra GV) đều là các câu hỏi mở nhằm thăm dò thêm ý kiến của SV và đặc biệt là của GV để kết quả nghiên cứu phong phú hơn và cũng tăng tính khách quan cho các kết luận cũng như các đề xuất của chúng tôi.Chúng tôi tiến hành khảo sát 352 SV (ở 6 khoa: Xây dựng, Kế toán, Kinh tế, Điện, Điều dưỡng, XH – NV) và 30 GV (ở 8 khoa - 10 ngành học) của trường ĐH Đông Á vào đầu tháng 6

2.2. Kết quả khảo sát tại trường ĐH Đông Á   

2.2.1. Kết quả nghiên cứu đối với các câu hỏi có phương án trả lời sẵn

Bảng 1. Kết quả điều tra đối với SV và GV qua từng câu hỏi (%)

TT câu hỏi

Các phương án trả lời của SV

Các phương án trả lời của GV

a/ Cao

b/ TB

c/ Thấp

a/ Cao

b/ TB

c/ Thấp

1

211 (59,9)

97 (27,6)

44 (12,5)

24 (80.0)

5 (16,7)

1 (3,3)

2

255 (72,4)

70 (19,9)

27 (7,7)

22 (73,3)

7 (23,3)

1 (3,3)

3

273 (77,6)

35 (9,9)

44 (12,5)

24 (80,0)

6 (20,0)

 

4

207 (58,8)

71 (20,2)

74 (21,0)

20 (66,7)

7 (23,3)

3 (10,0)

5

302 (85,8)

28 (7,95)

22 (6,25)

30 (100,0)

 

 

6

250 (71,0)

60 (17,1)

42 (11,9)

25 (83,3)

2 (6,7)

3 (10,0)

7

198 (56,3)

136 (38,6)

18 (5,1)

25 (83,3)

4 (13,4)

1 (3,3)

8

 

 

 

5 (16,7)

21 (70,0)

4 (13,3)

9

 

 

 

14 (46,7)

13 (43,3)

3 (10,0)

10

 

 

 

22 (73,4)

4 (13,3)

4 (13,3)

Nhận xét:

A. Về mặt định lượng

Ý kiến của SV và GV cho từng câu hỏi đều được thể hiện ở cả 3 phương án trả lời (a – cao, b – TB và c – thấp). Nhưng các ý kiến của SV (qua cả 7 câu hỏi) và của GV (qua 10 câu hỏi) đều tập trung nhiều nhất ở mức cao (phương án a). Cụ thể:

  • Đối với SV: là số % SV trả lời ở mức cao (phương án a) là từ 56,3% (ở câu hỏi 7) đến 85,8% (ở câu hỏi 5);  ở mức trung bình (phương án b) chiếm ít hơn, từ 7,95% (ở câu hỏi 5) đến 38,6% (ở câu hỏi 7); ở mức thấp thì chiếm tỉ lệ không nhiều, chỉ có từ 5,1% (câu hỏi 7) đến 21% (ở câu hỏi 4).
  • Đối với GV: cũng có kết quả tương tự, tức là số % GV trả lời ở mức cao (phương án a) nhiều hơn so với các phương án khác (trừ câu hỏi số 8 thì ngược lại, phương án b – mức TB có nhiều GV trả lời hơn so với các phương án khác cũng như so với câu hỏi khác).

Như vậy, có thể thấy đánh giá của SV và GV về vấn đề lời phê – nhận xét của GV đều có những điểm tương đồng: sự quan tâm, nhận thức vấn đề, nhất trí hay không nhất trí… Cụ thể về vấn đề này sẽ được chúng tôi phân tích chi tiết qua từng câu hỏi đối với cả 2 phiếu điều tra từ phía SV và GV.

B. Về mặt định tính:

* Đối với 7 câu hỏi có chung ở 2 phiếu điều tra SV và GV

  • Ở câu hỏi 1. … khi giáo viên (Đại học – Cao đẳng) chấm bài để đánh giá kết quả học tập của sinh viên thì bên cạnh việc ghi điểm số có cần ghi thêm lời phê không? (a/ Cần; b/ Có cũng được không có cũng chẳng sao; c/ Không cần)

Phần lớn (80%) GV cho rằng là Cần thiết và số GV cho Không cần chiếm 1 tỉ lệ rất nhỏ (3,3%). Trong khi ấy cũng câu hỏi này chỉ có gần 60% SV cho là Cần còn lại là 40% cho là Có cũng được không thì cũng chẳng sao (27,6%) và 12,5% cho là Không cần. Điều này cũng dễ hiểu, vì phần lớn người học trong đó có SV quan tâm nhiều hơn về điểm số vo với lời phê, nhưng điều quan trọng hơn là các bài KT, đặc biệt là thi thì GV và nhà trường lại không trả nên SV thấy không cần thiết là điều dễ hiểu, mặc dù nhiều SV cho rằng việc ghi lời phê là có tác dụng (xem thêm phần phân tích câu 2).

  • Ở câu hỏi 2. Việc ghi thêm lời phê của giáo viên vào bài làm của SV có tác dụng gì không? (a/ Có; b/ Lúc có lúc không; c/ Không)

Cả SV và GV đều có câu trả lời khá thống nhất là việc ghi lời phê có tác dụng (trên 90% SV và GV trả lời câu hỏi này ở mức cao (72,4% - SV và 73,3% - GV) và mức TB (19,9% - SV và 23,3% - GV).

Như vậy, giữa kết quả điều tra ở câu hỏi 1 và 2 liệu có mẫu thuẫn nhau không (nhất là ở phần trả lời của SV)? Theo chúng tôi là không mâu thuẫn. Vì việc SV nhận thức được tác dụng của lời phê của GV trong đánh giá kết quả học tập của các em, nhưng việc làm này có cần thiết hay không thì (từ trước tới tại thời điểm điều tra) thì SV không thấy cần thiết, vì GV ghi lời phê và lời phê ấy rất có tác dụng đối với họ chỉ khi nào lời phê ấy đến được với người học, còn không thì vô nghĩa (vì SV không nhận được bài có lời phê của GV). Do đó, lời phê của GV có tác dụng nhưng có cần thiết hay không lại còn phụ thuộc nhiều trước hết là vào cách triển khai việc làm này từ phía nhà trường, GV.

  • Ở câu hỏi 3. Nếu lời phê có tác dụng thì giáo viên nên ghi như thế nào? (a/ Nhận xét và chỉ dẫn cụ thể có kèm theo lời động viên; b/ Nhận xét và chỉ dẫn 1 vài từ; c/ Nhận xét chung chung)

Trả lời cho câu hỏi này ở cả SV và GV cũng có sự thống nhất rất cao, tức là câu trả lời tập trung nhiều ở mức cao: 80% (đối với GV) và 77,6% (đối với SV). Điều đó có nghĩa là cả SV và GV đều đánh giá cao của việc ghi lời phê – nhận xét và chỉ dẫn cụ thể có kèm theo lời động viên (phương án a). Việc nhận xét chung chung (phương án c) không được GV ủng hộ (không có GV nào trả lời ở phương án này), còn đối với SV thì có 12,5% trả lời ở phương án c.

  • Ở câu hỏi 4. Khi ghi nhận xét thì GV nên ghi những gi? (a/ Ghi những nét cơ bản về cả ưu và nhược điểm; b/ Chỉ ghi một số ưu và nhược điểm; c/ Chỉ ghi những nhược điểm (hoặc chỉ ghi những ưu điểm).

Phương án a được nhiều SV (58,8%) và GV (66,7%) ghi nhận hơn so với phương án b và đặc biệt là so với phương án c. Như vậy, việc ghi lời phê – nhận xét vào bài làm của SV không những cần ghi nhược điểm, hạn chế mà còn cần ghi cả những ưu điểm. Và theo kinh nghiệm của những GV lâu năm thì để ghi nhược điểm thì trước đó cần ghi ưu điểm. Vì như vậy hiệu quả của những lời phê bình sẽ được người học dễ dàng tiếp nhận hơn

  • Ở câu hỏi 5. Những bài làm của sinh viên như thế nào thì cần ghi lời phê – nhận xét? (a/ Những bài làm tốt và cả những bài làm chưa tốt đều cần ghi lời nhận xét của GV; b/ Chỉ chọn những bài làm thật tốt và những bài làm kém tiêu biểu để nhận xét làm mẫu; c/ Chỉ nhận xét những bài làm tốt (hoặc những bài làm chưa tốt để nhận xét)

100% GV cho rằng cả những bài làm tốt và những bài làm chưa tốt đều cần có lời phê của GV bên cạnh điểm số, còn đối với SV thì có tới 85,8% trả lời ở phương án a. Đây là câu hỏi có sự thống nhất, tương đồng cao nhất. Như vậy, không phải chỉ những SV làm bài chưa tốt, học lực kém mới cần đến những chỉ dẫn, lời phê, nhận xét của GV mà ngay cả những SV làm bài tốt, học giỏi cũng vẫn rất cần những lời nhận xét, động viên của GV để thành tích học tập của các em ngày càng tiến bộ hơn nữa.

  • Ở câu hỏi 6. Lời nhận xét của GV có cần tương thích với điểm số của bài làm của SV không? (a/ Rất cần; b/ Tương thích cũng được không thì cũng chẳng sao; c/ Không cần)

Phần đông SV và GV trả lời là cần sự tương thích giữa lời phê và điểm số: 71% (đối với SV) và 83,3% (đối với GV).

  • Ở câu hỏi 7. Lời nhận xét của GV ở bậc đại học tương thích với điểm số thì sẽ có tác dụng gì không? (a/ Góp phần hình thành nhân cách SV (đánh giá về năng lực học tập và tính cách); b/ Góp phần đánh giá về mặt năng lực học tập của SV; c/ Nói chung là chẳng có tác dụng gì nhiều lắm trong việc đào tạo ở bậc đại học).

Kết quả trả lời ở câu hỏi này ở SV và GV có điểm tương đồng và khác. Điểm tương đồng là ở chỗ cả SV và GV đều thấy việc ghi lời phê – nhận xét của GV đối với SV ĐH – CĐ là vẫn có tác dụng, nên số % trả lời ở phương án c của SV và GV đều rất ít (5,1 % - SV và 3,3% - GV). Nhưng khác ở chỗ là:1/ số GV (83,3%) khẳng định là tác dụng của lời phê của GV trong việc hình thành nhân cách (cả về năng lực học tập và tính cách) cao hơn nhiều so với SV (56,3%) là 27%. Trong khi ấy có tới 38,6% SV cho là lời phê chỉ có tác dụng trong việc đánh giá về mặt năng lực học tập, còn tính cách thì không.

Theo chúng tôi ở đây có sự hiểu chưa đúng của SV về các khái niệm trong tâm lí – giáo dục học (là nhân cách, năng lực, tính cách…). Vì vậy kết quả trả lời cho câu hỏi này giữa GV và SV là có sự khác biết thì cũng dễ hiểu.

* Đối với 3 câu hỏi (mở) tiếp theo trong hệ thống 10 câu hỏi ở phiếu điều tra GV

  • Ở câu hỏi 8. Từ trước tới nay, khi chấm bài thầy cô có ghi lời phê – nhận xét bên cạnh điểm số không? (a/ Có   b/ Lúc có lúc không  c/ Không bao giờ ghi lời phê)

Chỉ có 16,7 % GV cho là có ghi lời phê, 70% trả lời là lúc ghi lúc không, và 13,3% là không ghi bao giờ. Kết quả điều tra này phản ánh đúng thực chất của vấn đề và trong bối cảnh của hình thực tế hiện nay thì những con số này không có gì là xa lạ. Vì nhiều lí do chủ quan và khách quan. Và những lí do này đã được chúng tôi thăm dò qua 1 loạt các câu hỏi trước và sau câu hỏi 8 (ở phiếu điều tra GV), đặc biệt là ở các câu hỏi mở đối với SV (câu hỏi 8) và GV (câu hỏi 11).

  • Ở câu hỏi 9. Việc GV không ghi hay lúc có ghi lúc không ghi lời phê nhận xét là vì lí do gì là chủ yếu? (Vì: a/ Không có thời gian; b/ Cách tính giờ cho việc chấm bài còn nhiều bất cập, chưa phù hợp;  c/ SV chỉ quan tâm đến điểm số nên có ghi hay không thì SV cũng chẳng có tác dụng gì).

Chỉ có 10% GV chọn phương án c, còn lại số % chia đều ở 2 mức: Cao 46,7% và TB 44,3%. Như vậy,

  • Phần lớn GV (90%) cho là SV những chỉ quan tâm đến điểm số mà các em còn quan tâm đến cả lời phê – nhận xét của GV. Đây là đấu hiệu tích cực.
  • Tuy biết SV quan tâm đến lời phê của GV nhưng nhiều GV vẫn không ghi lời phê bên cạnh điểm số là do không có thời gian (46,7%) và số còn lại (44,3%) là do chế độ chính sách. Điều này cũng không thể trách được GV, nhất là trong bối cảnh hiện nay: GV cùng 1 lúc phải chịu rất nhiều áp lực từ gia đình (lương GV còn thấp không đủ trang trải cuộc sống buộc GV cùng 1 lúc phải dạy nhiều lớp nên lại chịu thêm áp lực từ phía nhà trường …

Nếu có những thay đổi tích cực từ phía nhà trường XH thì sẽ có những cải thiện nhiều trong quan niệm dẫn đến hành động của GV.

  • Ở câu hỏi 10. Trong thời gian tới với mục đích đổi mới đào tạo theo tín chỉ, trường ĐH Đông Á có triển khai được việc khuyến khích GV khi chấm thì ghi lời phê – nhận xét vào bài làm của SV không? (a/ Có; b/ Không rõ; c/ Không).

Có tới 73,4% GV trả lời là CÓ, 13,3 % là KHÔNG và 13,3% là HOÀI NGHI (không rõ). Đây là tín hiệu tích cực và là cơ sở tốt để BGH và nhà trường ĐH Đông Á xem xét để quyết định là trong thời gian tới có nên triển khai phong trào “LỜI PHÊ HƠN ĐIỂM SỐ” trong đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của SV. 

2.2.2. Kết quả nghiên cứu qua câu hỏi mở  (ý kiến của SV và GV)

2.2.2.1. Kết quả nghiên cứu câu hỏi 8 (ý kiến của SV)

A. Về mặt định lượng:

Bảng 2: Số lượng SV ở từng khoa, từng ngành có ý kiến về việc ghi lời phê (%)

Xây dựng (77)

Kế toán

(97)

Kinh tế (94)

Điện

(37)

Điều dưỡng (18)

Quản trị VP (29)

Du lịch (29)

QT KD

(40)

Nhân sự

(25)

18 (23,4)

39 (40,2)

5 (17,2)

9 (22,5)

6 (24,0)

17 (46,0)

7 (38,9)

5 (17,2)

106/352 (30,1) SV có ý kiến

Nhận xét:

Khi được hỏi: Em có ý kiến gì về việc ghi lời phê - nhận xét của GV vào bài làm của SV? (câu hỏi 8) thì chỉ có 106/352 (30,1%) SV có ý kiến.

Như vậy, số lượng SV cho biết ý kiến của mình về vấn đề chúng tôi quan tâm là rất ít. Còn gần 70% SV được điều tra không ghi ý kiến của mình. Điều này có thể lí giải 1 phần như sau: đây là 1 câu hỏi mở (không có các phương án trả lời sẵn để SV đọc rồi tích, đánh dấu vào) nên việc thăm dò ý kiến của SV qua việc đề nghị các em tự viết bằng lời của mình là còn hạn chế. Nhưng đây là chủ ý của người nghiên cứu, nhằm mong muốn nhận được thêm nhiều hơn nữa những ý kiến khách quan từ phía người học chứ không phải chỉ đơn thuần từ ý kiến chủ quan của người nghiên cứu (nêu sẵn ý của mình rồi yêu cầu SV cho ý kiến trong phạm vi còn hạn chế).

Tuy số lượng SV nêu ý kiến không nhiều nhưng đó là những ý kiến vô cùng quí báu và có giá trị nhất định trong việc góp phần định hướng cho nhà trường, GV và cả SV ở trường ĐH Đông Á để có kế hoạch triển khai việc khuyến khích GV ghi lời phê – nhận xét trong đánh giá kết quả học tập của SV trong thời gian tới hay không? Và nếu có thì sẽ triển khai như thế nào cho hiệu quả, đáp ứng được nguyện vọng của SV và GV. Đó là mục đích cuối cùng của người nghiên cứu.

B. Về mặt định tính.

Tổng hợp từ 106 ý kiến của SV, chúng tôi thấy phần lớn  những SV có ý kiến đều đề cập đến * Tác dụng của lời phê – nhận xét: giúp SV phấn đấu hơn trong học tập; giúp hình thành thói quen học tập cũng như làm bài thi cho SV; giúp người học biết được ưu (tiếp tục phát huy) và nhược điểm (để kịp chỉnh sửa những kiến thức còn hổng) trau dồi nhân cách, kĩ năng của mình hơn; động viên, khích lệ tinh thần học tập.

Ngoài ra, các ý kiến còn nói đến những vấn đề sau:

* Tính cần thiết của việc ghi lời phê đối với SV ĐH, vì nó có tác dụng. “nhưng … sẽ rắc rối và khó áp dụng trong môi trường ĐH với số lượng SV đông” (SV khoa Điều dưỡng)

* Góp ý cho GV:

  • Cần thực hiện việc ghi lời phê – nhận xét cụ thể về nội dung cũng như phương pháp làm bài (dù bài làm được điểm cao hay điểm thấp), “có chỉ dẫn cụ thể kèm theo lời động viên” (SV khoa Điều dưỡng)
  • Cần nhiệt tình (vì việc ghi lời phê phụ thuộc nhiều vào GV),
  • Cần nhận xét cụ thể, rõ ràng, sát thực (những gì làm được, những gì chưa làm được) và tương thích với điểm số (đánh giá đúng: khả năng, năng lực học tập của SV), đặc biệt là nhấn mạnh nhược điểm để SV rút kinh nghiệm cho những lần bài sau được tốt hơn. Nên chỉ dẫn đường hướng để SV sửa cái sai trong bài làm.
  • Cần trả bài “để SV tham khảo và so sánh với đáp án” (SV khoa Điều dưỡng), “ … vì chưa bao giờ thầy cô trả bài thi " (SV khoa XD) “… nên có lời phê hay không thì cũng không quan trọng” (SV khoa Kế toán), “không cần thiết, vì bài KT hay bài thi thì SV cũng không được xem” (SV khoa KT), nên “… SV không biết được mình làm sai đúng ở nội dung nào?” (SV khoa Kế toán) và “…điều này rất bất cập trong việc làm đơn xin phúc khảo” (SV khoa Kế toán)

Bên cạnh những ý kiến tập trung vào những vấn đề nói trên thì cũng có những SV cho rằng việc ghi lời phê – nhận xét ở bậc ĐH– CĐ là không cần thiết, không quan trọng, vì SV ĐH đã lớn, có ý thức trong học tập rồi, hơn nữa “…nếu nhận xét tốt thì không nói gì, còn xấu thì lại ảnh hưởng ít nhiều đến tâm lí của SV (SV khoa Kế toán), và “ làm thế sẽ rất mất thời gian của thầy cô” (SV khoa XH – NV),

2.2.2.2. Kết quả nghiên cứu qua câu hỏi mở - câu hỏi 11 (ý kiến đóng góp của GV)

Ý kiến của 30 GV tập trung vào những vấn đề sau

A. Về phía nhà trường:

  • Có văn bản chỉ đạo của Hiệu trưởng. Có qui định cụ thể về 1 số môn học (VD, các Học phần thực hành Tin học, Tin học chuyên ngành (Kế toán máy , Phần mềm Kế toán ....) không có bài làm trên giấy, mà chủ yếu làm bài trên máy, lưu bằng file.
  • Tạo điều kiện về thời gian cho GV như: Giảm bớt số bài KT trong 1 học phần và số lượng SV trong 1 lớp để hợp lí hơn; cho GV thời gian trả bài chậm hơn. Vì mỗi GV dạy cùng 1 lúc nhiều lớp nên để chấm bài và phê vào từng bài của SV là cần có nhiều thời gian.
  • Thay đổi giấy thi và triển khai đến SV để họ hiểu, trong bài làm (KT, bài tập nhóm, …) chừa chỗ ghi lời phê – nhận xét
  • Cần có chế độ hợp lí cho việc chấm bài: tính toán lại quyền lợi của GV khi chấm bài (tăng tiền, đơn giá, hỗ trợ lệ phí chấm bài và ghi lời phê cho GV)
  • Giám sát khối lượng công tác của GV CVHT
  • Hỗ trợ tính năng hơn nữa phần mềm, trang web: E-learning – dạy học trực tuyến để GV chữa bài của SV ngay trên mạng.
  • Trả bài Kiểm tra, Kiểm tra giữa kì cho SV đúng hạn

B. Về phía giáo viên:

  • Tích cực thực hiện quan điểm chỉ đạo của cấp trên
  • Tăng thời gian chấm làm. Thời gian dạy không quá nhiều
  • Cần hiểu tác dụng của việc ghi lời phê để thực hiện nghiêm túc (với cái “tâm” của GV) , đánh giá công bằng  ưu và nhược điểm để việc ghi lời phê – nhận xét có tác dụng tích cực giúp SV tiến bộ
  • Vận dụng tối đa các hình thức cho lời phê: Trên giấy làm bài của SV, tại ngay các vị trí sai sót; Chữa bài trên bảng trước lớp -> bài tập; Thi vấn đáp, bảo vệ đồ án, khoá luận: nhận xét và giải đáp cụ thể cho SV hiểu và thuyết phục; Qua mail, e-learning…
  • Ra bài tập, làm việc nhóm, .. để nhận xét đánh giá thường xuyên đối với từng cá nhân cũng như nhóm. Còn không nhất thiết phải phê vào bài KT, thi vì không có thời gian.
  • Ra đề KT phải bao cả KT kiến thức và nhân cách SV. Tăng tự luận.
  • Có giờ trả bài KT, bài thi và GV có nhận xét chung

C. Về phía sinh viên:

  • Quan tâm, chú ý đọc bài, lời phê sau khi phát bài, tiếp nhận 1 cách tôn trọng và có thái độ đúng đắn với các lời phê của GV để biết được những ưu điểm (tiếp tục phát huy) và khuyết điểm để cố gắng chỉnh sửa, thay đổi cách học, cách làm bài theo lời phê của GV
  • Tôn trọng bài làm của mình, và tôn trọng GV (tôn trọng lời phê của GV). Phản biện GV chấm bài để hiểu hơn về những lời phê. Ý thức đúng đắn về điểm số và lời phê, vì điểm số không phải là yếu tố duy nhất để đánh giá về người học.
  • Năng động, chủ động trong học tập, ý thức tự học (trao đổi, thảo luận các vấn đề trong môn học với GV, …). Chữ viết phải đẹp, rõ ràng,  trình bày cẩn thận

3. Kết luận và một số đề xuất

3.1.Kết luận:

  • Một, Công việc chấm bài và trả bài là một việc làm thường xuyên của người giáo viên. Dựa vào kết quả bài làm được định lượng bằng điểm số, giáo viên có thể đánh giá được năng lực, tri thức và ý thức học tập của học sinh, qua đó  phần nào tự đánh giá công việc giảng dạy của mình và có những điều chỉnh thích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy, học. Với cách nhìn ấy, có thể thấy lời phê của giáo viên có một vai trò quan trọng. Giữa lời phê và điểm số có mối quan hệ mật thiết, đồng thuận. Một học sinh có thể ghi nhớ suốt đời lời phê của thầy cô giáo dạy mình. Thậm chí một lời phê sâu sắc, chân tình có khi làm thay đổi cả cuộc đời của HS, SV. Nhưng cũng ngược lại, có những lời phê bình nhận xét không công tâm, có thành kiến làm ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần, thái độ học tập của người học.
  • Hai, Để có được lời phê – nhận xét xác đáng  từ phía GV thì đòi hỏi phải có sự đồng thuận từ nhiều phía: chủ trương chính sách của Bộ giáo dục & đào tạo; công tác chỉ đạo của nhà trường; nhận thức đúng đắn mục tiêu đào tạo và ý thức của GV và SV, …
  • Ba, Qua kết quả điều tra ở trường ĐH Đông Á cho thấy việc ghi lời phê – nhận xét của GV để đánh giá kết quả học tập của SV là việc làm cần thiết, vì nó có tác dụng tới việc hoàn thiện nhân cách của SV.

3.2. Một số đề xuất:

Việc đổi mới giáo dục, phương pháp đào tạo trong đó có đổi mới cách thức đánh giá kết quả học tập của sinh viên là việc làm cần thiết, đặc biệt là đổi mới tư tưởng “Lời phê hơn điểm số” trong cách đánh giá kết quả học tập của SV ở bậc Đại học – Cao đẳng để tiến tới thực hiện được chủ trương này có hiệu quả ở trường Đại học Đông Á trong thời gian tới, tôi có một số kiến nghị như sau:

A. Đối với nhà trường

  • Thứ nhất, công việc giám sát, điều hành, quản lý chuyên môn của Ban giám hiệu nhà trường là rất quan trọng. Sẽ rất khó, nếu chỉ dựa vào ý thức, trách nhiệm của giáo viên để làm được những điều trên. (Người giáo viên không chỉ có “một công việc dạy”. Có vô số điều tác động đến họ, trong đó có thói quen và tâm lý số đông). Ban chuyên môn của bộ môn, của khoa kết hợp với nhà trường, phòng đào tạo bên cạnh việc quan tâm đến công tác giảng dạy, cần quan tâm đến đánh giá kết quả đầu ra mà cụ thể là bài kiểm tra... phải xem việc đánh giá bài kiểm tra, thi và lời phê của giáo viên là một yêu cầu nằm trong chất lượng dạy học của giáo viên, một tiêu chuẩn để đánh giá xếp loại giáo viên. 
  • Thứ hai, công việc chấm bài (đặc biệt là những bài mang tính tự luận, những môn thuộc khoa học xã hội) với 1 lớp học hội trường lớn đông SV như hiện nay đang trở thành một áp lực đối với giáo viên, nhất là những giáo viên mới ra trường, chưa có nhiều kinh nghiệm sư phạm. Để giảm tải áp lực cho giáo viên, thiết nghĩ, nhà trường kết hợp với Bộ giáo dục và đào tạo có những thay đổi sao cho thật phù hợp như về: 1/ số lượng SV trong 1 lớp cần ít hơn so với hiện tại); 2/ thời hạn chấm, trả bài; 3/ cách tính giờ cũng như thù lao cho công việc chấm bài đặc biệt là theo hình thức chấm bài có kèm lời phê – nhận xét; 4/ cách thức ra đề kiểm tra, thi cũng như những đặc thù cụ thể của một số môn học (như môn tin học). Vì nếu đề kiểm tra hay thi là trắc nghiệm lại có thêm sự hỗ trợ của máy chấm thì việc ghi lời phê – nhận xét của GV là không cần thiết và cũng khó thực hiện được (xem thêm những đề nghị của GV trường ĐH Đông Á đã được chúng tôi nêu ra ở phần trước).
  • Thứ ba, nhà trường nên có công văn chỉ đạo về việc trả bài và cân nhắc lại là nên trả bài loại nào là cần thiết (chỉ trả bài kiểm tra; còn thi, đề tài NCKH, tiểu luận, Báo cáo thực tập TN và Đề án, khoá luận TN, thì không hay trả tất cả) cho SV xem và thông báo trong toàn trường cho GV và SV, để các GV theo đó mà thực hiện cũng như SV biết theo dõi và có trách nhiệm với bài làm của mình. Vì nếu không làm như vậy thì việc GV ghi lời phê – nhận xét dù có khách quan, công tâm tốn bao cong sức thì SV cũng không thể biết được mà tiếp tục cố gắng phấn đấu nên mọi cố gắng của GV và nhà trường cũng đều vô nghĩa. Đây là điều rất khó thực hiện (vì từ trước tới nay chưa có qui định cụ thể, đặc biệt là không trả bài thi, niên luận, khoá luận) nhưng tối quan trọng, cần thiết và là điều nên làm ngay.

B. Đối với giáo viên

  • Thứ nhất, đối với giáo viên, trước hết, cần có một nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc ghi lời phê và chấm điểm bài làm của SV. Cần phải thấy rằng, giữa lời phê và điểm số phải có sự tương thích. Trong đó, ý nghĩa GD trước hết là ở lời phê, điểm số chỉ là cụ thể họa sự đánh giá kết quả bài làm của SV bằng con số. Việc đánh giá đúng chất lượng bài làm của SV có tác dụng khuyến khích, uốn nắn việc rèn luyện của SV. Ngược lại, việc đánh giá sai, thiên vị hay thành kiến sẽ làm mất niềm tin, gây tâm lý chán nản, bất bình ở SV. Vì thế GV cần có thái độ công tâm, khách quan, điềm tĩnh khi chấm bài và viết lời phê.
  • Thứ hai, muốn có những lời phê phản ánh trung thực, phản ánh đúng năng lực của SV, GV phải có sự đầu tư về thời gian và trí lực. Chấm bài (đặc biệt là những bài thuộc các môn xã hội, các đề thi, KT tự luận mà đáp án của chúng không phải là những con số cụ thể) thì không nên chấm theo kiểu “thủ - vĩ” nghĩa là chỉ đọc phần mở bài và kết bài để đánh giá và cho điểm. Tuyệt đối không viết lời phê, chấm điểm theo định kiến, ấn tượng đối với người học. Điều này dễ dẫn đến việc không thấy được sự tiến bộ của người học có học lực yếu, trung bình; sự chủ quan của SV khá giỏi. Đặc biệt, GV không nên tỏ rõ sự chê bai trên bài làm SV. Thay vào đó là những lời nhận xét đánh giá, chỉ ra chỗ sai cụ thể. (Có thể dùng kí hiệu đã được qui ước để nhắc nhở, những kí hiệu này cũng giúp cho giáo viên dễ dàng tổng hợp những sai sót để nhận xét, đánh giá chung về bài làm của cả lớp trong một lượt làm bài).
  • Thứ ba, nội dung lời phê, cách phê của giáo viên tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của các em. Kinh nghiệm cho thấy, khi đọc bài xong, giáo viên phải ghi lời nhận xét cụ thể. Nội dung lời phê phải khái quát được những ưu khuyết của bài làm thể hiện trên các phương diện: nhận thức vấn đề, tinh thần, thái độ, óc sáng tạo … cũng như hình thức bài làm, vì SV trong trường ĐH – CĐ vẫn là những con người đang trên con đường hoàn thiện nhân cách để đáp ứng các yêu cầu của XH khi họ ra trường Từ đó, giúp các em thấy được ưu, nhược ở mỗi bài làm. Lời phê phải gẫy gọn, sáng rõ và thể hiện sự nâng niu trân trọng những kết quả của các em, dù là nhỏ nhất để động viên khích lệ các em. Không nên dùng  những lời nhận xét chung chung, ít bổ ích, chỉ mang tính xếp loại. Khi cho điểm, cần chú ý đến tương quan giữa nội dung lời phê và điểm số. Việc đánh giá này được thực hiện bằng “bộ công cụ” là đáp án và biểu điểm cho từng tiêu chí cụ thể trong đáp án mà giáo viên xây dựng trên cơ sở yêu cầu của đề kiểm tra, thi cũng như đề tài nghiên cứu (niên luận, tiểu luận, khoá luận…). Tương ứng với mỗi lời phê là khoảng điểm nào? Muốn vậy giáo viên phải có đáp án chấm bài để làm cơ sở cho việc giải đáp thắc mắc cho SV và nhận xét bài làm.
  • Thứ tư, ngoài đánh giá của GV qua lời phê và điểm số, ở bậc ĐH cần tiến hành đánh giá của SV (tự đánh giá của SV). SV phải có ý thức ngay từ đầu việc học tập của mình và tự đánh giá (trước khi GV đánh giá) kết quả học tập dưới sự hướng dẫn, kiểm soát và thậm định của GV. Khi có sự tương đồng giữa đánh giá của của SV và đánh giá của GV thì cả 2 (SV và GV) đều có lợi và tác động, hỗ trợ qua lại cho nhau.

C.    Đối với sinh viên

Sinh viên phải nhận thức được tác dụng của những Lời phê – Nhận xét của GV trong đánh giá kết quả học tập của mình để có ý thức, thái độ và hành động đúng đắn về vấn đề này. Cụ thể là SV cần phải tôn trọng lời phê của GV (tức là tôn trọng GV và cũng chính là tôn trọng bài làm của mình, tôn trọng và có trách nhiệm với bản thân) qua hành động như:  đọc và tiếp thu một cách tích cực với sự cầu thị cao, nếu cảm thấy chưa tâm phục, khẩu phục thì có thể gặp trực tiếp GV phản ánh một cách cới mở chân thành để tiếp tục nhận được những giải đáp, lời nhận xét cụ thể hơn, đường hướng sửa chữa sai sót.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bản tin Đại học Đông Á donga.edu.vn/Newsroom/Tintuc/t. Lời phê hơn điểm số - 05/06/2013.

2. Các vấn đề về đánh giá giáo dục. Bộ Giáo dục và đào tạo, Dự án Việt – Bì “Hỗ trợ học từ xa”, HN 2000.

3. Giải thích thuật ngữ tâm lí – giáo dục học. Bộ Giáo dục và đào tạo, Dự án Việt – Bì “Hỗ trợ học từ xa”, HN 2000.

4. Lời phê thay đổi con người. www.24h.com.vn/giao.../loi-phe-thay-doi-con-nguoi

5. Lời phê và chấm điểm bài văn ở trường phổ thông- Thực trạng và một số đề xuất phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/399067‎).

6. Phạm Huy Oánh (2005), Tâm lí học sư phạm, NXB TP HCM.

7. Trẻ thành công bằng tính cách, không phải điểm số (vietnamnet.vn/.../tre-thanh-cong-bang-tinh-cach--khong-phai-diem-so.ht...‎)  


<<<

  

Thông tin liên quan

  • "Lời phê - cần lắm tấm lòng của người thầy" - GV Nguyễn Thu Hồng
  • "Tản mạn mùa hè" - GV Lê Thị Huệ
  • "Giảng dạy ĐH có cần lời phê?" - TS Lê Xuân Thọ
  • “Cô tin em sẽ làm được” - GV Phan Thị Phương
  • "Lời phê: kim chỉ nam đối với học trò" - GV Đỗ Thị Phương Thảo